Những bài văn hay lớp 12

Phân tích hình tượng nhân vật Mị Trong truyện Vợ chồng A Phủ

Phân tích hình tượng nhân vật Mị Trong truyện Vợ chồng A Phủ

Bài làm

Sau chuyến đi theo bộ đội vào giải phóng Tây Bắc năm 1952, Tô Hoài đã viết truyện “Vợ chồng A Phủ”, qua đó tái hiện lại sự thống khổ của người Mèo ở Tây Bắc và sự vùng dậy của họ để giành lấy tự do, hạnh phúc, một lòng quyết tâm đi theo kháng chiến. Và hình tượng nhân vật Mị đã được khắc hoạ vô cùng thành công, tiêu biểu cho số kiếp những người lao động bé nhỏ bị chúa đất, chúa mường đàn áp song họ hoàn toàn có khả năng tự giải phóng chính mình.

Trước hết, cuộc đời của Mị là cuộc đời đầy nước mắt. Món nợ truyền kiếp đang đè nặng lên đôi vai người con gái lớn. Năm nào hai bố con Mị cũng phải trả nợ lãi một nương ngô cho thống lí Pá Tra. Mị làm nương giỏi, thổi sáo hay, nhiều chàng trai mê, ngày đèm thổi sáo đi theo Mị. Hạnh phúc, tình yêu và tuổi xuân của người thiếu nữ đang độ xuân thì bỗng bị chà đạp khi thằng A Sử, con trai Pá Tra bắt cóc đem về “cúng trình ma”. Từ đó, Mị trở thành con dâu gạt nợ nhà thống lí. Bố Mị chỉ còn biết khóc và cất lời than: “Chao ôi! Thế là cha mẹ ăn bạc của nhà giàu từ kiếp trước, bây giờ người ta bắt bán con trừ nợ. Không thể làm thế nào khác được rồi!”.

Bắt đầu kiếp sống của dâu gạt nợ mãn kiếp truyền đời, Mị bị hành hạ cả về thể xác lẫn tinh thần. Lúc nào cũng “Mặt buồn rười rượi”. Nơi Mị ở là một cái buồng “kín mít” chỉ có một ô cửa sổ bằng bàn tay, nhìn ra ngoài chỉ thấy trăng trắng, không biết là sương hay nắng” Mị phải làm quần quật suốt đêm ngày, lúc hái củi, lúc bung ngô, lúc đi nương, lúc nào cũng gài một bó đay trong cánh tay để tước thành sợi. Bao giờ cũng thế, suốt năm suốt đời như thế! Mị như kẻ vô cảm vô hồn, ngày “càng không nói, lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa”. Bao mùa xuân đã trôi qua, Mị tưởng mình cũng như con trâu con ngựa “chỉ biết việc ăn cỏ, biết đi làm mà thôi!”. Như một linh hồn chết “Mị cúi mặt không nghĩ ngợi nữa”. Dường như Mị đã bị nô lê hoá từ ý thức, chẳng thiết xanh cùng nắng, réo cùng gió, lặng im như núi đá, vô hồn như thảo mộc vô tri.

Nhưng dù khổ đau, Mị lại là cô gái có nhiều đức tính tốt đẹp. Mị là một người con hiếu thảo và giàu đức hi sinh. Hàng tháng trời, đêm nào Mị cũng khóc. Mị không muốn làm kiếp con dâu gạt nợ. Mị phải ăn lá ngón để tự tử. Mị trốn về nhà, quỳ lạy bố “úp mặt xuống đất, nức nở”. Mị chết nhưng nợ quan vẫn còn, bố đã già, đã ốm yếu qua rồi, lấy ai làm nương ngô giả được nợ? Mị không nỡ chết! Mị không thể chết! Thương bố đã già yếu. Mị chết thì bố Mị “còn khổ hơn bao nhiêu lần bây giờ nữa”. Quẳng nắm lá ngón xuống đất, Mị nghe bố nói, bưng mặt khóc, Mị đành trở lại nhà thống lí, cam chịu mọi cay cực, đau khổ. Thương cha mà Mị nhận hết mọi đau khổ vào mình. Lòng hiếu thảo, đức hi sinh của người con gái vùng rẻo cao thật là đẹp, đáng quý trọng. Không chỉ thế, Mị còn tự ý thức được giá trị của cuộc sống tự do. Mị xin cha cuốc nương trả nợ chứ “cha đừng bán con cho nhà giàu”, bởi Mị biết một khi đã sa chân vào đó, tuổi xuân, hạnh phúc, tự do sẽ bị chôn vùi. Ngay cả khi Mị tìm đến cái chết, dì tiêu cực nhưng hành động ấy, chính là tự kiếm tìm cho mình một lối thoát, tự giải phóng chính mình, dù có chết còn hơn là bị đoạ đày, trói buộc.

Cứ tưởng rằng “ở lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi” nhưng sức sống mãnh liệt, sức vươn dậy tiềm tàng của Mị lại thật đáng khâm phục. Mị còn trẻ. Tết lại đến, ngoài đầu núi đã có ai đó “thổi sáo rủ bạn đi chơi”. Nghe tiếng sáo vọng lại, Mị “thiết tha bồi hồi”. Những đêm tình mùa xuân đã tới. Mị nhẩm thầm bài hát của người đang thổi sáo:

“… Ta không có con trai con gái
Ta đi tìm người yêu.

Những âm thanh, màu sắc mùa xuân nơi núi rừng Tây Bắc như đánh thức các giác quan rồi khai mở tiềm thức. Mị lấy hũ rượu “cứ uống ừng ực từng bát”. Mị muốn nuốt cho sạch, muốn vùi cho sâu những đắng cay khổ cực ở hiện tại. Mị say, ngồi lịm mặt… Mị nhớ lại thời con gái. Mị thấy lòng mình “phơi phới trở lại”, rồi đột nhiên “vui sướng như những đêm Tết ngày trước”. Tiếng sáo, tiếng hát gọi bạn tình của trai gái làng Mèo đã “đánh thức” bao nỗi khát khao về tình yêu và hạnh phúc của người phụ nữ bất hạnh này! Mị ý thức mãnh liệt: “Mị trẻ lắm. Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn đi chơi…”. Có biết bao người có chồng cũng đi chơi ngày Tết. Mị cay đắng nghĩ đến thân phận mình: “A Sử với Mị không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau”. Nước mắt Mị ứa ra. Nếu có nắm lá ngón trong tay, Mị sẽ ăn cho chết ngay! Tiếng sáo gọi bạn yêu lại làm cho lòng Mị bồi hồi:

“Anh ném pao, em không bắt
Em không yêu, quả pao rơi rồi”.

Sau đó là một loạt hành động nối tiếp, dồn dập. Mị xắn mỡ bỏ thêm vào đĩa đèn cho sáng, quấn lại tóc, với tay lấy cái váy hoa…tựa như một cánh chim vội vã sắp phá cũi sổ lồng. Khi bị A Sử đã trói đứng, bị quấn luôn tóc lên cột, làm cho Mi “không cúi, không nghiêng đầu được nữa”. Suốt đêm, Mị “lúc mê, lúc tỉnh”. Mị sợ quá, cựa quậy “xem mình còn sống hay chết”. Mị bị trói nhưng tâm hồn Mị vẫn đi theo tiếng sáo nơi đầu núi. Sợi dây đay trói buộc được thân xác, nhưng đôi cánh tự do trong tâm hồn Mị đã vút bay cao, chuẩn bị cho một sự vươn dậy mãnh liệt hơn.

Sức sống mãnh liệt như cháy bùng lên trong đêm đông Mị cởi trói cho A Phủ. Mị buồn chỉ chợp mắt được từng lúc, rồi lại thức sưởi ấm suốt đêm. Mị sống trong tâm trạng cô đơn “chỉ biết chỉ còn ở với ngọn lửa”. Mị và A Phủ như hai số kiếp tiền định cùng trải qua bao đau khổ dập vùi. Pá Tra trói đứng A Phủ vào cọc bằng một cuộn dây mây đến chết nếu không bắt được hổ về! Bị trói đứng suốt mấy ngày đêm, hai hõm má của A Phủ đã “xám đen lại”.Khi Mị “lé mắt trông sang” thấy kẻ chịu nạn, rồi xúc động nghĩ: “Cơ chừng này chỉ đêm mai là ngườ kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết”. Hình ảnh A Phủ chẳng khác gì Mị trong đêm xuân trước. Mị căm thù nguyền rủa cha con thống lí: Chúng nó thật độc ác!”. Mị vừa lo vừa sợ phải thế mạng vào cái cọc ấy một khi A Phủ trốn thoát. Nghĩ thế, trong tình cảnh này “làm sao Mị cũng không thấy sợ…”. Bếp lửa tàn, nhà tối bưng, Mị như có thêm sức mạnh, Mị đã dùng dao nhỏ cắt dây mây, cởi trói cho A Phủ. Mị giục A Phủ: “Đi ngay!”, rồi Mị nghẹn lại. A Phủ vùng chạy! “Mị đứng lặng trong bóng tối”. Câu văn đứng riêng một dòng, như tấm bản lề khép mở hai số phận, sự sống và cái chết. Mị băng đi nói thở trong hơi gió thốc lạnh buốt: “A Phủ cho tôi đi!… ở đây thì chết mất!”. A Phủ chỉ kịp nói với người đàn bà chê chồng vừa cắt dây trói cứu mình: “Đi với tôi!”. Mị và A Phủ dìu đỡ nhau chạy trốn khỏi Hồng Ngài. Hành động cắt dây trói cứu A Phủ rồi cùng chạy trốn là một tình huống dữ dội phản ánh bước nhảy vọt về ý thức và tâm lí của nhân vật Mị. Mị vừa thương mình, vừa thương người, Mị căm thù cái ác đà chà đạp lốn cuộc đời mình. Mị cắt dây trói cứu A Phủ cũng là cắt đứt sợi dây oan nghiệt đã biến con người thành nô lệ súc vật nhục nhã, đau thương.

Nhân vật Mị trong truyện “Vợ chồng A Phủ” là một thành công của Tô Hoài. Sự đổi đời của Mị đã tô đậm giá trị nhân đạo của truyện “Vợ chồng A Phủ”. Từ tủi nhục cay đắng của kiếp con dâu gạt nợ, Mị đã vùng dậy giành được tự do, hạnh phúc. Qua đây ta cũng thấy được ở Tô Hoài sự cảm thương sâu sắc đầy tình người, sự trân trọng những số phận bất hạnh nơi vùng cao Tây Bắc cũng như tài năng viết truyện ngắn bậc thầy.