Những bài văn hay lớp 12

Phân tích khổ thơ 5, 6 bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh và liên hệ đến khổ cuối bài Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử

Phân tích khổ thơ 5, 6 bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh và liên hệ đến khổ cuối bài Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử

Bài làm

Bằng niềm yêu mến và sự thấu hiểu của mình, TS Chu Văn Sơn đã gọi Xuân Quỳnh là “người đàn bà bước dưới đạn bom mà làm thơ về sự sống”. Vì thế, thơ nữ sĩ cũng có một hương sắc rất riêng: không mang mùi lửa cháy chiến tranh mà nồng nàn hơi thở của những ước nguyện đời thường. Có lẽ vì thế mà những dòng thơ của nữ sĩ chưa bao giờ cũ, vẫn vỗ mãi trong lòng người. Có thể nhắc đến hai khổ thơ trong bài thơ “Sóng”:

“Con sóng dưới lòng sâu

Con sóng trên mặt nước

Ôi con sóng nhớ bờ

Ngày đêm không ngủ được

Lòng em nhớ đến anh

Cả trong mơ còn thức

Dẫu xuôi về phương bắc

Dẫu ngược về phương nam

Nơi nào em cũng nghĩ

Hướng về anh – một phương”

Không còn phân biệt được sóng tạo nên Xuân Quỳnh, hay Xuân Quỳnh đã tạo nên sóng. Chỉ biết rằng người con gái ấy sinh ra là để dành cho thơ. Thơ ca, với Xuân Quỳnh, gắn liền với sự sống, tình yêu; làm thơ là nữ sĩ được sống với chính mình, sống đủ đầy trọn vẹn là mình. Mỗi bài thơ đều là tiếng nói chân thành nhất của một tâm hồn phụ nữ giàu trắc ẩn, vừa âu lo vừa da diết trong khát vọng hạnh phúc đời thường. Bài thơ “Sóng” được viết năm 1967 trong chuyến đi thực tế ở biển Diêm Điền (Thái Bình), là tiếng thơ của những ngọt ngào, đắng cay từng trải trong tình yêu, khi đã vun đắp và trải nghiệm sự tan vỡ trong tình yêu mà vẫn thật tha thiết, tràn đầy khát vọng.

Đứng trước sóng, “em” chợt nhận ra được những quy luật của tình yêu, cũng ngưng truy tìm nguồn gốc “Khi nào ta yêu nhau” mà chuyển sang thể hiện những sắc thái của người phụ nữ khi yêu. Trước hết, phải nói đến nỗi nhớ:

“Con sóng dưới lòng sâu

Con sóng trên mặt nước

Ôi con sóng nhớ bờ

Ngày đêm không ngủ được

Lòng em nhớ đến anh

Cả trong mơ còn thức”

Nhà phê bình Chu Văn Sơn từng viết; “Một trái tim đang nhớ là một trái tim đang yêu”. Điệp từ “sóng” liên tiếp làm cho những con sóng nhớ thương như đang trào dâng dào dạt khỏi bề mặt con chữ, vừa gợi cái sôi trào mà miên man, sâu lắng của nỗi nhớ. Nỗi nhớ đầy ắp không gian: “dưới lòng sâu”, “trên mặt nước”, tràn ngập thời gian “ngày đêm”. Nỗi nhớ trong tình yêu đã trở thành một trong những mạch nguồn chính nuôi dưỡng thơ ca: từ ca dao:

“Nhớ ai bồi hổi bồi hồi

Như đứng đống lửa như ngồi đống than”

Đến những câu thơ của Hàn Mặc Tử nhớ đến ngẩn ngơ:

“Người đi một nửa hồn tôi mất

Một nửa hồn tôi hóa dại khờ”

Nỗi nhớ của người con gái ấy cồn cào, da diết đến nỗi những con sóng kia cũng chẳng thể diễn tả hết mà tự em phải giãi bày. Hai câu thơ cuối như con sóng xuyên qua cả cõi thực, cõi mộng. Không chỉ ở ý thức mà còn lắng sâu vào tiềm thức để hiện ra trong giấc mơ. Cái dào dạt nhớ nhung khiến cảm xúc tràn bờ mà kéo dung lượng ra 6 câu để biểu đạt. Cảm xúc ấy có gì giống khi Xuân Quỳnh viết “Tự hát”:

“Em trở về đúng nghĩa trái-tim-em

Là máu thịt, đời thường ai chẳng có

Cũng ngừng đập lúc cuộc đời không còn nữa

Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồi”

Nỗi nhớ “cả trong mơ còn thức” hay “biết yêu anh cả khi chết đi rồi” rất đậm chất Xuân Quỳnh: mãnh liệt mà đằm thắm, táo bạo, giàu nữ tình. Xuân Quỳnh là thế: bao giờ cũng dám sống thật với mình, thật với cảm xúc của chính mình.

Đó còn là tấm lòng thủy chung:

“Dẫu xuôi về phương Bắc

Dẫu ngược về phương Nam

Nơi nào em cũng nghĩ

Hướng về anh – một phương”

Trong khổ thơ trên ta đã thấy sự khác biệt so với cách diễn đạt thông thường, không phải là ngược Bắc xuôi Nam mà là “xuôi Bắc ngược Nam”. Sự khác biệt hé lộ một tình yêu trắc trở, gian nan. Nhưng ở đó, hình như có thoáng qua một chút thách thức:

“Yêu nhau mấy núi cũng trèo

Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua”

Đối với Xuân Quỳnh, dù có xáo trộn xuôi – ngược thì điều đó cũng chẳng có gì quan trọng. Quan trọng nhất chỉ là “phương anh”. Xuân Quỳnh đã cho thấy một tình yêu thật đẹp, khi khẳng định tình yêu đích thực không phụ thuộc vào không gian. Nếu khổ thơ trên, nữ sĩ soi vào sóng để nhận ra mình thì ở đây, nhà thơ nhìn sâu vào mình để nhìn vào quy luật sóng: sóng hướng về bờ thì cuộc đời em duy nhất chỉ hướng về anh. Nếu nói đến sự quyết liệt của tình yêu Xuân Quỳnh thì khổ thơ này là dẫn chứng tiêu biểu nhất – những câu thơ “rất Xuân Quỳnh”.

Như vậy, sự song hành hình tượng sóng và em đã khắc họa vẻ đẹp vừa dịu dàng, tinh tế vừa chủ động, mãnh liệt, vừa truyền thống vừa hiện đại của một tình yêu chân thành. Xin mượn lời nhà phê bình Chu Văn Sơn: “Với Xuân Quỳnh, thơ là sống, sống là thơ. Cho nên, tìm những miền thi cảm khác lạ cho thơ, chế tác những hình thức tân kỳ cho thơ không phải thao thức của chị. Cứ hết mình sống, hồn nhiên viết, trút trọn vẹn cái tôi của mình vào mỗi thi phẩm, thi tứ, mỗi thi ảnh, thi điệu đó là cách thơ Xuân Quỳnh. Không mặt nạ, không son phấn, không vay mượn, không lên gân, Xuân Quỳnh đã gửi mình vào thơ. Thơ Xuân Quỳnh là tính linh Xuân Quỳnh. Trường hợp Xuân Quỳnh thật điển hình cho qui luật : thơ là sự ký thác phận người vào chữ. Có lẽ vì thế mà, dù đời thơ Xuân Quỳnh đã dừng, sóng thơ Xuân Quỳnh vẫn vỗ khôn nguôi.”

Cũng những vần thơ được viết ra từ “máu” của mình, Hàn Mặc Tử đã viết lên những câu thơ tuyệt bút:

“Mơ khách đường xa, khách đường xa

Áo em trắng quá nhìn không ra…

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Ai biết tình ai có đậm đà?”

Giọng khắc khoải đã hiển hiện thành nhịp điệu. Vườn đẹp, trăng đẹp và bây giờ đến hình bóng đẹp của “khách đường xa”. Tất cả đều được phủ một lớp mờ ảo, huyền sương. Nó đẹp thật đấy nhưng đều rất “xa” của thế giới “ngoài kia” mà chẳng bao giờ thi sĩ có thể với tới, nhìn được. Câu hỏi cuối bài cất lên càng da diết, như một sự cố níu kéo mà càng thêm phần chấp chới, càng cố tin tưởng lại càng tuyệt vọng: “Ai biết tình ai có đậm đà”. Xét đến cùng âm điệu của câu hỏi ấy được cất lên từ một niềm thiết tha với cuộc đời đến mức thương tâm của một hồn đau. Ở bài thơ vốn được xem là kiệt tác này, niềm yêu đau đáu đến tuyệt vọng còn hoá thân thành một mặc cảm sâu xa, thấm đẫm vào toàn thể thi phẩm: mặc cảm chia lìa.

Như vậy, nếu nói: “Thơ là sự lên tiếng của thân phận” thì Xuân Quỳnh và Hàn Mặc Tử chính là hình ảnh tiêu biểu. Giống như Xuân Quỳnh, Hàn Mặc Tử gắn cuộc đời mình với thơ, thơ là sự sống và là lí do để người sống… Nhưng nếu Xuân Quỳnh dùng thơ để kí gửi tình yêu, khát khao được yêu và hạnh phúc ở phía tích cực thì Hàn Mặc Tử lại ở phía bên kia của bờ khát vọng ấy. Tiếng thơ thi sĩ là tiếng thơ đau thương, tiếng thơ kì dị chỉ để mong níu lại chút tình yêu với trần thế.

“Thơ là nơi giải phóng tôi, cũng là nơi để tôi trú ẩn” , hẳn là thế rồi…